Nửa chặng đường “biến nguy thành cơ” trong phục hồi, phát triển kinh tế

0:00 / 0:00
0:00
(BĐT) - Nền kinh tế Việt Nam đã đi qua nửa chặng đường của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) 5 năm 2021 - 2025, trong một bối cảnh khó khăn, thách thức đặc biệt chưa từng có. Kết quả đạt được của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, như một ngôi sao sáng trên bầu trời kinh tế thế giới u ám.
Đầu tư công sẽ tiếp tục là động lực quan trọng cho tăng trưởng của Việt Nam trong các năm tới. Ảnh: Trần Chiến
Đầu tư công sẽ tiếp tục là động lực quan trọng cho tăng trưởng của Việt Nam trong các năm tới. Ảnh: Trần Chiến

Tuy nhiên, bối cảnh thực hiện các nhiệm vụ phát triển KTXH 5 năm trong nửa chặng đường còn lại được nhận định còn rất chông gai, thách thức, đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn, tận dụng tối đa các cơ hội mới để phục hồi, tăng tốc phát triển.

Những khó khăn chưa từng có

Nước ta bắt đầu thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021 - 2025 từ năm 2021 - năm đặc biệt nhất từ trước đến nay. Dịch Covid-19 bùng phát mạnh từ đầu năm 2021 đến tháng 10/2021, buộc Chính phủ phải áp dụng nhiều biện pháp phòng chống dịch chưa từng có tiền lệ nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân. Thực hiện phong tỏa, cách ly, giãn cách xã hội, gây đứt gãy chuỗi cung ứng, khó khăn cho sản xuất, kinh doanh.

2022 lại tiếp tục là một năm khó khăn chồng chất. Dịch Covid-19 được kiểm soát, nhưng bối cảnh thế giới diễn biến rất phức tạp, không thể dự báo hết được. Lạm phát, lãi suất tăng rất cao tại nhiều nền kinh tế lớn như Mỹ, châu Âu, chuỗi cung ứng sản xuất, tiêu dùng tiếp tục bị đứt gãy sau khi đã rất căng thẳng trong thời gian dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu; chính sách tài khóa, tiền tệ được nhiều nền kinh tế điều chỉnh theo hướng thắt chặt để kiềm chế lạm phát, đã tác động không nhỏ tới phục hồi và tăng trưởng kinh tế. Thậm chí, một số nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái. Cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra từ tháng 2/2022 làm chậm quá trình phục hồi của nền kinh tế thế giới, gây đứt gãy chuỗi cung ứng, gia tăng thách thức về an ninh năng lượng, an ninh lương thực toàn cầu, làm sâu sắc, phức tạp thêm vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Sang năm 2023, kinh tế thế giới tiếp tục xu hướng tăng thấp hơn dự báo, hậu quả của đại dịch Covid-19 kéo dài; cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, sâu sắc; chính sách tiền tệ của các nước lớn tiếp tục thắt chặt, tác động bất lợi đến kinh tế Việt Nam. Nhu cầu của nhiều nước đối tác lớn sụt giảm, ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu, sản xuất, kinh doanh trong nước…

Những khó khăn, biến động xảy ra trong 2 năm rưỡi qua khi xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2025 chưa thể dự báo được. Cùng với đó, khó khăn còn đến từ nội tại của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh, năng suất lao động, năng lực của doanh nghiệp tuy có cải thiện, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều vấn đề tồn đọng, tích tụ lâu dài, nhất là trong lĩnh vực trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, bất động sản, các dự án thua lỗ cần phải tập trung xử lý, tháo gỡ.

Điểm sáng trong bức tranh kinh tế toàn cầu

Trong bối cảnh đó, kết quả phát triển KTXH đạt được trong năm 2021, 2022 và 8 tháng đầu năm 2023 của Việt Nam là tích cực, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Năm 2021, Việt Nam ghi điểm với cộng đồng quốc tế khi vẫn đạt tăng trưởng dương (2,56%) dù nhiều nền kinh tế trên thế giới có mức tăng trưởng âm, kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát kiểm soát ở mức thấp. Sự vào cuộc tích cực của Chính phủ để tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư với tinh thần “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ” đã củng cố niềm tin của doanh nghiệp, giới đầu tư quốc tế vào sự điều hành của Chính phủ, môi trường đầu tư của Việt Nam.

Năm 2022, sau khi mở cửa hoàn toàn, chúng ta đã tận dụng từng cơ hội để có được sự phục hồi mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng 8,02%, cao nhất kể từ năm 2011 trở lại đây, được cộng đồng quốc tế đánh giá là “điểm sáng” trong bức tranh xám màu của kinh tế toàn cầu. Đồng thời, Việt Nam đã giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát được kiểm soát, bảo đảm được các cân đối lớn của nền kinh tế, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Dù khó khăn, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, số doanh nghiệp thành lập mới, giải ngân vốn đầu tư nước ngoài đều đạt con số kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây. Quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng; GDP bình quân đầu người tăng từ 3.552 USD năm 2020 lên 4.109 USD năm 2022. Số vốn đầu tư nước ngoài giải ngân năm 2022 vượt 20 tỷ USD là minh chứng cho thấy niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh, tương lai phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 của ASEAN và thứ 40 của thế giới, quy mô thương mại quốc tế nằm trong TOP 20 của thế giới, là một trong những nền kinh tế được đánh giá là năng động và có độ mở cao nhất thế giới.

Giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam tăng trưởng nhanh nhất thế giới giai đoạn 2019 - 2022 (tăng 74%), năm 2022 đạt 431 tỷ USD, xếp thứ 32 trong nhóm 100 giá trị thương hiệu quốc gia mạnh trên thế giới, là thương hiệu quốc gia tăng trưởng nhanh nhất thế giới giai đoạn 2019 - 2022.

Cả 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế uy tín là Moody’s, S&P và Fitch đều duy trì, nâng bậc xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam (Moody’s nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ mức Ba3 lên mức Ba2, triển vọng “ổn định”; S&P nâng từ mức BB lên BB+, triển vọng “ổn định”; Fitch duy trì ở mức BB với triển vọng “tích cực”). Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định Việt Nam là một điểm sáng trong “bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu...

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng, kết quả này có được là nhờ trí tuệ tập thể, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, sự đồng thuận của người dân. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt; Quốc hội giám sát nhanh, kịp thời, chính xác với rất nhiều quyết sách, tháo gỡ khó khăn vướng mắc từ trong thời kỳ chống dịch đến khi chuyển trạng thái, phục hồi phát triển kinh tế. Chính phủ điều hành linh hoạt, quyết liệt hành động, theo dõi sát diễn biến tình hình và có phản ứng chính sách kịp thời, phù hợp, hiệu quả. Chính phủ kiên định thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, từ nền tảng này phấn đấu thúc đẩy phục hồi kinh tế, tăng trưởng cao nhất có thể, vừa thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ thường xuyên, vừa tập trung xử lý các vấn đề tồn đọng và ứng phó với những vấn đề mới.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cũng đánh giá cao cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam bằng bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần trách nhiệm với đất nước, cùng người lao động đã nỗ lực vượt khó, duy trì, thúc đẩy sản xuất, giữ vững thị trường nội địa và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho những thành quả chung của đất nước.

Bất ổn kinh tế thế giới, thương mại toàn cầu sụt giảm đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất trong nước và hoạt động xuất khẩu. Ảnh: Lê Tiên

Bất ổn kinh tế thế giới, thương mại toàn cầu sụt giảm đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất trong nước và hoạt động xuất khẩu. Ảnh: Lê Tiên

Chủ động nắm bắt cơ hội trên chặng đường phía trước

Dù đã đạt những kết quả tích cực, nhưng theo Bộ KH&ĐT, với quy mô nền kinh tế còn khiêm tốn, độ mở lớn, sức chống chịu còn hạn chế, bất ổn kinh tế thế giới, thương mại toàn cầu sụt giảm đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất trong nước và hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh đó, những khó khăn, yếu kém nội tại của nền kinh tế vẫn chậm được cải thiện, bộc lộ rõ trước tác động từ những rủi ro, thách thức của tình hình thế giới, khu vực. Áp lực điều hành kinh tế vĩ mô gia tăng, đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức do diễn biến bất lợi từ tình hình thế giới.

Đến nay, dự báo của nhiều tổ chức quốc tế cho năm 2023 hầu hết đều theo hướng kinh tế toàn cầu sẽ phát triển chậm lại, tác động tới tăng trưởng của Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam năm 2023 vẫn sáng trong bức tranh chung, nhưng khó khăn của các đối tác sẽ mang đến thách thức lớn cho khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm sút tiếp tục có tác động tiêu cực đáng kể với nền kinh tế Việt Nam. Triển vọng tăng trưởng của Việt Nam tiếp tục ở mức thấp với dự báo chỉ đạt 4,7% trong năm 2023, tăng lên 5,5% trong năm 2024 và 6% vào năm 2025. Lạm phát dự báo ở mức 3,5% năm 2023 và 3% trong năm 2024, 2025.

Việc lựa chọn đầu tư, sắp xếp lại chuỗi cung ứng và mạng lưới sản xuất toàn cầu tạo cơ hội cho Việt Nam có điều kiện tham gia sâu hơn vào cấu trúc đầu tư, trật tự thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu, nhất là chuyển đổi số, thu hút hợp tác về hạ tầng, mở rộng thị trường xuất khẩu…

Nhận định nền kinh tế Việt Nam chịu tác động nặng nề hơn do tổng cầu bên ngoài giảm mạnh từ cuối năm 2022, IMF dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2023 đạt 4,7%.

Với kết quả tăng trưởng GDP năm 2021 là 2,56%, năm 2022 là 8,02%, năm 2023 trong kịch bản tốt nhất mà Bộ KH&ĐT đưa ra tại phiên họp Chính phủ tháng 7/2023 là 6,5%, thì năm 2024 phải tăng trưởng khoảng 7,5%, năm 2025 khoảng 8%. Nếu năm 2022 chỉ đạt 6% thì áp lực trong 2 năm cuối của Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2021 - 2025 sẽ lớn hơn rất nhiều.

Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, trong bối cảnh khó khăn bên ngoài rất lớn và không thể kiểm soát được, muốn thúc đẩy tăng trưởng, cải cách bên trong là yếu tố quyết định. Trong đó, những giải pháp có thể chủ động là giảm chi phí, giảm rào cản, tạo môi trường kinh doanh an toàn hơn, ít rủi ro hơn; thực thi nhanh chóng, hiệu quả những chính sách đã được ban hành. WB nhấn mạnh, đầu tư công sẽ tiếp tục là động lực quan trọng cho tăng trưởng các năm tới, cần tiếp tục duy trì mức đầu tư công, cải thiện chất lượng, tiến độ giải ngân.

Bên cạnh đó, theo Bộ KH&ĐT, khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ, ngày càng trở thành nhân tố quyết định đến năng lực cạnh tranh mỗi quốc gia; tăng trưởng xanh, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn tiếp tục là mô hình được ngày càng nhiều quốc gia lựa chọn; xây dựng nền kinh tế tự chủ là ưu tiên chiến lược của nhiều quốc gia; quan điểm xanh hóa, thích ứng với biến đổi khí hậu dần trở thành xu hướng lớn, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế, sản xuất, đầu tư, tiêu dùng… toàn cầu. Việc các quốc gia quan tâm thúc đẩy chuyển dịch xanh, chuyển đổi số, thương mại điện tử và kinh tế số, xã hội số, chuyển dịch đầu tư, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi nghề… là cơ hội cho những nước đi sau. Việc lựa chọn đầu tư, sắp xếp lại chuỗi cung ứng và mạng lưới sản xuất toàn cầu tạo cơ hội cho Việt Nam có điều kiện tham gia sâu hơn vào cấu trúc đầu tư, trật tự thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu, nhất là chuyển đổi số, thu hút hợp tác về hạ tầng, mở rộng thị trường xuất khẩu…

Tại Diễn đàn Phát triển bền vững 2023 vừa diễn ra, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà nhấn mạnh, cam kết thực hiện Net Zero vào năm 2050 là thách thức rất lớn đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nhưng đây là thời điểm, cơ hội để chúng ta cùng hành động để thực hiện các mục tiêu toàn cầu; đồng thời là cơ hội để cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa vào tri thức, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ; đưa đất nước phát triển theo "con đường xanh" có thu nhập cao vào năm 2045.

Tin cùng chuyên mục