Việt Nam trên bước đường cải thiện năng suất lao động

0:00 / 0:00
0:00
(BĐT) - Tháng 4/2023, Việt Nam đạt dấu mốc 100 triệu dân số, trở thành quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) và thứ 15 trên thế giới. Bên cạnh niềm hạnh phúc từ sự lớn mạnh về quy mô dân số, nhiều chuyên gia bày tỏ lo lắng về hiện trạng năng suất lao động của Việt Nam chưa cao, thậm chí có nguy cơ tụt hậu sâu so với quốc tế.
Cần đổi mới tư duy để nâng cao năng suất lao động dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Lê Tiên
Cần đổi mới tư duy để nâng cao năng suất lao động dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Lê Tiên

Thực trạng năng suất lao động ra sao và làm cách nào để chỉ tiêu này nâng bậc song hành cùng vị thế dân số Việt Nam là câu chuyện đáng bàn.

Thứ hạng năng suất lao động Việt Nam

Năng suất lao động là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Trong những năm qua, cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế, năng suất lao động của Việt Nam dần được cải thiện. Năm 2022, năng suất lao động của Việt Nam tính theo giá hiện hành ước đạt 188,1 triệu đồng/lao động1, tương đương 8.083 USD/lao động, tốc độ tăng ước đạt 4,81% so với năm trước.

Giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng năng suất lao động toàn nền kinh tế bình quân năm đạt 4,53%. Trong giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng năng suất lao động từ năm 2016 đến năm 2019 đều đạt trên 6%. Bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2011 - 2020, tốc độ tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế đạt 5,29%. Đây là kết quả thể hiện thành công đáng ghi nhận của Việt Nam trong việc nỗ lực phấn đấu nâng cao năng suất lao động. Riêng năm 2020, 2021, 2022 do ảnh hưởng của dịch Covid-19, tốc độ tăng năng suất lao động chậm lại nhưng vẫn đạt gần 5%.

Đạt được kết quả trên do một số nguyên nhân chủ yếu như: tỷ lệ lao động qua đào tạo liên tục tăng qua các năm2; do chuyển dịch cơ cấu theo ngành nghề, lao động có xu hướng dịch chuyển từ khu vực có năng suất lao động thấp sang khu vực có năng suất cao hơn (từ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ); do tỷ trọng đầu tư vào máy móc thiết bị có công nghệ cao hơn giúp cải thiện và nâng cao năng suất lao động…

Trong mối tương quan so sánh với khu vực và thế giới, tính theo sức mua tương đương (PPP 2017), năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 tăng bình quân 5,4%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của Malaysia (1,3%/năm); Hàn Quốc (1,5%/năm); Singapore (1,7%/năm); Thái Lan (2,2%/năm); Indonesia (2,6%/năm); Philippines (3,5%/năm). Nhờ đó, Việt Nam đã thu hẹp được khoảng cách tương đối với một số nước ASEAN có trình độ phát triển cao hơn.

So với một số nền kinh tế lớn của châu Á, khoảng cách tương đối về năng suất lao động của Việt Nam so với Hàn Quốc giảm từ 6,1 lần xuống 4,3 lần; so với Nhật Bản giảm từ 6,8 lần xuống 4,1 lần3.

Tuy nhiên, năng suất lao động của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực, đáng chú ý là chênh lệch tuyệt đối vẫn tiếp tục gia tăng. Tính theo PPP 2017, năng suất lao động của Việt Nam năm 2020 đạt 18,4 nghìn USD, chỉ bằng 11,3% của Singapore; 23% của Hàn Quốc; 24,4% của Nhật Bản; 33,1% của Malaysia; 59,1% của Thái Lan; 60,3% của Trung Quốc; 77% của Indonesia và bằng 86,5% Philippines.

Bên cạnh đó, chênh lệch tuyệt đối mức năng suất lao động (PPP 2017) của Singapore và Việt Nam tăng từ 130,4 nghìn USD năm 2011 lên 144,1 nghìn USD năm 2020; Hàn Quốc từ 58,8 nghìn USD lên 61,8 nghìn USD; Trung Quốc từ 6,1 nghìn USD lên 12,1 nghìn USD; Ấn Độ từ 1,3 nghìn USD lên 1,8 nghìn USD4.

Theo dữ liệu mới nhất từ Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), tính theo PPP 2017, năng suất lao động của Việt Nam ước tính năm 2021, 2022 lần lượt là 19,2 nghìn USD/lao động/năm và 20,1 nghìn USD/lao động/năm. Mức năng suất lao động năm 2021 chỉ bằng 11,9% mức năng suất của Singapore, bằng 62,7% của Thái Lan, bằng 91% của Philippines, bằng 23,3% của Hàn Quốc, bằng 58,1% so với Trung Quốc. Năm 2022 chỉ bằng 12,2% mức năng suất của Singapore, bằng 63,9% của Thái Lan, bằng 94,2% của Philippines, bằng 24,4% của Hàn Quốc, bằng 58,9% so với Trung Quốc.

Điều này cho thấy khoảng cách và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt để có thể bắt kịp mức năng suất lao động của các nước có trình độ phát triển hơn là khá lớn.

Cải thiện năng suất lao động, cần giải pháp đột phá

Trong những năm gần đây, Việt Nam có nhiều nỗ lực mạnh mẽ trong việc cải thiện năng suất lao động cả về giá trị và tốc độ, nhưng để bắt kịp các nước trong khu vực, cần phải có những đột phá trong việc cải thiện năng suất quốc gia.

Theo đó, cần tạo môi trường thông thoáng, minh bạch, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các loại hình kinh tế. Tăng cường tính minh bạch trong hành chính công, cải cách tiền lương và cách thức đánh giá cán bộ nhằm giảm thiểu tệ nạn tham nhũng, nâng cao hiệu quả bộ máy công vụ, góp phần giảm chi phí phi chính thức cho doanh nghiệp. Xây dựng chiến lược tổng thể để đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao.

Về phía doanh nghiệp, cần xây dựng mô hình sản xuất phù hợp, phát triển những sản phẩm mới có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao. Đồng thời, cần đổi mới tư duy để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động thông qua ứng dụng công nghệ quản lý tiên tiến. Hoàn thiện quản trị sản xuất, xây dựng nguồn lao động chất lượng cao.

Đối với người lao động, cần nâng cao ý thức, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp; cần nỗ lực, rèn luyện, phấn đấu, nâng cao trình độ học vấn, tay nghề... đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi trong xu thế phát triển hiện nay.

Xã hội loài người phát triển được phần lớn là nhờ vào việc nâng cao năng suất lao động. Với Việt Nam, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội nghị phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam, ngày 18/5/1963, Bác Hồ đã nói: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải tiến đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thúc đẩy phát triển khoa học nhằm nâng cao năng suất lao động và nâng cao đời sống vật chất của nhân dân. Năng suất lao động cao thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng của Người còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay và để thực hiện được trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển như vũ bão trên toàn cầu, Việt Nam cần có thêm những giải pháp đột phá trong nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng tri thức mới vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong xã hội.

1 Sử dụng lao động có việc làm (theo khái niệm- ICLS19).

2 Năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ ở mức 14,7% trên tổng lực lượng lao động, thì năm 2015 đã tăng lên mức 20,4%, 2019 là 22,8%, 2020 là 24,1%, 2021 và 2022 đạt 26,1% và 26,2%, kế hoạch năm 2023 sẽ đạt mức 27,5%.

3 Theo báo cáo năng suất lao động của Việt Nam 2011-2020- TCTK

4 Tính toán từ nguồn số liệu của Ngân hàng Thế giới.

Tin cùng chuyên mục